TOÀN CẢNH MỘT QUYẾT SÁCH CHO VIỆT NAM

Biến đổi khí hậu ? Đề tài này dường như khá xa lạ đối với người Việt Nam hiện nay, khi đặt bên cạnh những chỉ số giá cả, đầu tư, tăng trưởng kinh tế và thị trường chứng khoán. Nhưng chúng ta có nhiều lý do cần phải biết và quan tâm đến vấn đề này. Hội nhập sân chơi kinh tế thế giới WTO là tự nguyện, nhưng làm sao để có khả năng thích nghi với những biến đổi khí hậu khắc nghiệt của thiên nhiên thì lại là chuyện hoàn toàn khác. Một khi cả thế giới bị buộc phải thực hiện, chúng ta nên xem đó là điều cấp bách.

69cm hay 1 m
Đó là hai con số dự báo về mực thủy triều dâng (Sea Level Rise – SLR) của WB (Ngân hàng Thế giới) và IPCC (Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu của Liên Hiệp Quốc) đang làm bối rối giới khoa học gia Việt Nam tại Hội thảo “Hướng tới Chương trình hành động của ngành Nông nghiệp & Phát triển nông thôn (NN&PTNT) nhằm giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu” do Bộ NN&PTNT tổ chức tại Hà Nội vào ngày 11/1/2008. Họ đang lúng túng xây dựng một kịch bản để Việt Nam đối phó với thảm họa toàn cầu và kịch bản này chỉ dựa trên 2 con số giản đơn duy nhất !
Chỉ riêng với vấn đề biến đổi khí hậu, các chuyên gia môi trường trên thế giới có đến bốn lý do để chuẩn bị hàng loạt kịch bản, và một tâm thế để đối phó với mức SLR tối thiểu là 5 mét:
1. Lịch sử địa chất Trái Đất đã chứng minh với một mức nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng từ 2°C – 3°C (và đây là điều chắc chắn, ngay cả với IPCC), thì SLR trên toàn bề mặt Trái Đất sẽ dâng cao 25 ± 10 mét ! (tham khảo diễn đàn biến đổi khí hậu Electronic Journals: http://www.iop.org/EJ/article/1748-9326/2/2/024002/erl7_2_024002.html).
2. Các hậu quả của biến đổi khí hậu (ví dụ: bão, nhiệt độ trung bình toàn cầu, mực thủy triều dâng, mất cân bằng sinh thái …) mang tính phi tuyến tính, nghĩa là không xảy ra theo công thức, bất ngờ, và không dự đoán trước được.
3. Mức SLR do băng tan là một chuyện, nhưng cần phải tính đến mức SLR thực tế khi có sự cộng hưởng của các nhân tố thảm họa thiên nhiên khác (ví dụ như: gió, bão, lũ lụt). Hình ảnh tiểu bang New Orleans chìm trong biển nước khi bão Katrina tràn qua bờ biển phía Đông nước Mỹ là một ví dụ điển hình.
4. Cứ theo mệnh đề đánh cược nổi tiếng “Nếu chúng ta sai thì sao ?” của nhà triết học và toán học lừng danh người Pháp Blaise Pascal (còn được gọi là “thuyết nghịch biện Pascal” – Pascals Paradox), nếu chúng ta hành động để ngăn chặn và phòng chống thảm họa biến đổi khí hậu và chúng ta sai lầm, thì chỉ là vấn đề tốn một ít tiền. Còn nếu chúng ta không hành động, và chúng ta sai lầm, thì sẽ thấy ngay hậu quả khủng khiếp.
Vì thế mà, không chỉ Architecture 2030 (Hiệp hội Kiến trúc sư và Công trình sư Bảo vệ môi trường của Mỹ) đã cảnh báo một biên độ dao động từ 1m – 6m SLR tại 36 thành phố lớn của Mỹ bằng bản báo cáo nghiêm túc NATION UNDER SIEGE (tạm dịch: “Nước Mỹ bị công hãm”), mà ngay cả WB (Ngân hàng Thế giới) cũng rất thận trọng trong việc thống kê thiệt hại do SLR gây ra tại Việt Nam: “Việt Nam là quốc gia bị ảnh hưởng bởi SLR nghiêm trọng nhất thế giới, chỉ sau quần đảo Bahamas. Phần lớn ảnh hưởng nằm ở hai đồng bằng sông Cửu Long và sông Hồng. Với mức 1m SLR, 10,8% dân số Việt Nam bị ảnh hưởng. Với mức 5m SLR, con số sẽ là 35% dân số Việt Nam”. (trích dẫn trang 28, 29, 30 – báo cáo đối chiếu của WB về ảnh hưởng của SLR đối với các nước đang phát triển; nguồn: http://www-wds.worldbank.org/external/default/WDSContentServer/IW3P/IB/2007/02/09/000016406_20070209161430/Rendered/PDF/wps4136.pdf).
Bộ NN&PTNT có thể còn lờ mờ về chuyện này, nhưng những người bạn nước ngoài đã tính toán rất rõ ràng cho Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực nông – thủy sản. Trên tạp chí Rice Today số tháng 7 – tháng 9/2007, Hội nghị Hợp tác về Gạo và Biến đổi khí hậu (The Rice and Climate Change Consortium) của Viện nghiên cứu lúa gạo quốc tế (International Rice Research Institute – IRRI) đã công bố khung bản đồ Việt Nam chỉ báo những khu vực trồng lúa nằm dưới 1m SLR và nằm trong biên độ từ 1m – 5m SLR (tham khảo: http://www.irri.org/publications/today/pdfs/6-3/10-15.pdf). Hiện tại, IRRI đang hợp tác với Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam ở Tp. Hồ Chí Minh để đánh giá ảnh hưởng của SLR đối với các điều kiện thủy lợi ở Đồng bằng Sông Cửu Long.
Nhưng tất cả chỉ trở nên nghiêm trọng, khi nhìn vào bất cứ tấm bản đồ dự báo nào về mức SLR của các tổ chức trên, một màu đỏ cảnh báo đang được tô đậm toàn bộ khu vực đồng bằng Sông Cửu Long, đồng bằng Sông Hồng, và dọc bờ biển miền Trung. Điều đó có nghĩa là 2 vựa lương thực chính và các bờ biển du lịch đẹp của chúng ta có nguy cơ bị mất trắng hoàn toàn.

Cần một nhận thức có hệ thống
Vào đầu năm nay, khi đề cập đến cuộc khủng hoảng biến đổi khí hậu, các chuyên gia môi trường đã bắt đầu sử dụng thuật ngữ “Predicament” để thay thế cho “Crisis”. Điều đó có nghĩa là cuộc khủng hoảng này không chỉ là một giai đoạn ngắn hạn, nhưng sẽ có ảnh hưởng nghiêm trọng trong thời gian dài hạn, về cả hai mặt vật chất và tinh thần, với mối hiểm họa tăng lên gấp bội. Và CLIMATE PREDICAMENT nghĩa là: (1) Mức tăng khí thải gây hiệu ứng nhà kính (GHSs) làm nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng; (2) Hiện tượng suy giảm tính đa dạng sinh học; (3) Dân số quá đông; (4) Sự suy giảm các nguồn tài nguyên có thể tái tạo được (đất, nước, không khí …); và (5) Sự suy giảm các nguồn tài nguyên không thể tái tạo được (dầu mỏ, khí đốt, uranium …) (trích dẫn trang 1, báo cáo Planet Titanic của tác giả Raja Sohail Bashir).
Trong một báo cáo năm 2003 về khả năng thích nghi biến đổi khí hậu dựa trên yếu tố cộng đồng của Gs. Rajib Shaw (Đại học Kyoto, Nhật Bản), ông và người cộng sự Okazaki có đề cập đến những phương pháp giúp Việt Nam củng cố khả năng phát triển bền vững:
(1) Tăng cường và củng cố một “nền văn hóa có tâm thế đối phó với khủng hoảng”.
(2) Tăng cường nhận thức của cộng đồng về mối hiểm họa.
(3) Nhận ra các động lực giúp cộng đồng bắt tay vào hành động.
(4) Kêu gọi sự tham gia của cộng đồng và bồi thêm sức mạnh nghiên cứu thông qua các học viện chuyên ngành.
(5) Tập trung chú ý tập luyện những phương pháp cứu hộ dành cho nhu cầu sống còn căn bản.
(6) Mời gọi sự tham gia từ nhiều phía, dựa trên nhu cầu và mục tiêu hành động, và bằng nhiều cách thức, cả chính quy và không chính quy.
(7) Tăng cường khả năng tích lũy hữu hình và vô hình về vật chất, công nghệ, và tài sản kinh tế để sử dụng như đầu ra cho các dự án đối phó với cuộc khủng hoảng.
(8) Tăng cường tích hợp sự tích cực và sáng tạo của cộng đồng xã hội vào việc hoạch định và giải ngân chính sách phát triển để đảm bảo khả năng tồn tại bền vững.
Với những khái niệm như thế thì vấn đề biến đổi khí hậu không chỉ là chuyện của Bộ NN&PTNT, hay của riêng bất cứ một cơ quan ban ngành nào. Quan tâm đến vấn đề này cũng không phải là chỉ đơn giản là xem xét mực nước triều dâng, hay dự đoán mưa bão lụt lội. Cần phải nhìn nhận cuộc khủng hoảng biến đổi khí hậu từ nhiều khía cạnh: khoa học, xã hội, kinh tế, chính trị, dân số … Và đó là trách nhiệm chung của cộng đồng và xã hội, trong đó, những nhà hoạch định chính sách giữ vai trò quan trọng.
Cần phải thống kê bao nhiêu phần trăm dân số Việt Nam có mức thu nhập phụ thuộc vào điều kiện thời tiết và khí hậu. Giới truyền thông đã làm được những gì để gây ý thức người dân về tình hình cấp bách biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường hiện nay ? Chúng ta lạc quan về mức tăng trưởng GDP để làm gì ? Để tiêu dùng hoang phí hơn ? Để có thói quen sống hưởng thụ hơn ? Ngược lại, nên học cách tiết kiệm và sử dụng đúng mức nhu cầu sống để xây dựng tổ quốc và giúp đỡ cộng đồng. Chính phủ cần hướng đến mục tiêu cắt giảm khí thải CO2, hơn là chỉ nhằm kiểm soát tình trạng ô nhiễm. Các nhà hoạch định chính sách của chúng ta nên đặt ra nhiều sự chọn lựa và đàm phán: giữa việc phát triển một nền kinh tế mang tính chụp giật và nhất thời với khả năng phát triển các điều kiện giao thương bền vững, giữa việc xây dựng một nền tảng cơ sở vật chất quá phụ thuộc vào dầu mỏ và năng lượng không tái tạo được với những nguyên vật liệu và công nghệ sạch và có thể tái tạo được, và giữa quyết định trồng rừng, gây rừng, và bảo tồn thiên nhiên dựa trên cái giá rẻ mạt về buôn bán trao đổi khí thải carbon mà người ta đang cám dỗ chúng ta với khả năng phát triển một hệ sinh thái vững vàng để bảo vệ cuộc sống của nhân dân.
Không có gì lạ khi Ts. John P. Holdren – chuyên gia vật lý và khí hậu của Harvard, Chủ tịch Hiệp hội Tiến bộ Khoa học Mỹ, đang than thở về các khoản đầu tư cho loại cơ sở hạ tầng và công nghệ quá phụ thuộc vào dầu mỏ trên tờ New York Times: “Chúng ta đầu tư 12 nghìn tỷ USD vào nền kinh tế năng lượng thế giới chỉ để thu về được một khoảng thời gian trong vòng 30 đến 40 năm … Nếu mong có một tương lai khác trong 30 đến 40 năm nữa, cần phải bắt đầu lại từ giờ …” (trích dẫn http://www.nytimes.com/2006/10/30/business/worldbusiness/30energy.html?pagewanted=2&_r=1&ei=5070&en=bd2fe8aed6f933b9&ex=1184731200). Điều lạ lùng là những công trình tại các khu vực quy hoạch và trung tâm thương mại ở hai đô thị lớn là Tp. Hồ Chí Minh và Hà Nội vẫn đang được tiến hành xây dựng theo lối mòn mà ông tiến sĩ ở trên đã than trời. Thậm chí một số những khu du lịch và dân cư còn có tham vọng lấn biển ở khu vực Cần Giờ và dọc bờ biển miền Trung. Cũng không có gì lạ khi mà những chính sách kiểm tra trách nhiệm tập đoàn kinh tế và thị trường đánh thuế khí thải đang sôi động và nhộn nhịp ở Châu Âu và đang được bắt đầu đề xuất ở Trung Quốc, thì điều lạ là ở Việt Nam, sau khi đã gia nhập sân chơi WTO, các nhà hoạch định phát triển kinh tế vẫn cố tình tỏ ra ngây thơ không biết gì, và các doanh nghiệp Việt Nam thì chưa có tâm thế sẵn sàng cho một mức thuế mới về khí thải carbon sẽ đánh vào hoạt động kinh doanh xuất khẩu của họ.
Năm 2007, Việt Nam đã tự tin ký kết Biên bản Ghi nhớ với Boeing và Airbus về việc mua 42 máy bay “thế hệ mới” dành cho việc chuyên chở hàng không từ năm 2012 đến 2018 (tham khảo Reuters: http://www.reuters.com/article/companyNewsAndPR/idUSL0187021320071001?pageNumber=2&virtualBrandChannel=0 và AsianTravelMate.com: http://www.asianatravelmate.com/index.php?option=com_content&task=view&id=481&cida=1&loc=vn&cot=0&cit=0). Bản thỏa thuận này được xem như một chỉ báo cho ý định đầu tư của chính phủ về một ngành chuyên chở hàng không quốc gia mang tầm cỡ quốc tế. Như vậy, tổng số máy bay của Vietnam Airlines sẽ được nâng lên con số 86 chiếc vào năm 2015 và 110 chiếc vào năm 2020. Với thông tin dự báo của các chuyên gia năng lượng thế giới về khả năng khai thác dầu khí – mà kerosene là một thành phần của dầu mỏ chiếm hàm lượng cao trong xăng của máy bay – sẽ đạt mức đỉnh về sản lượng (Oil Peak) vào năm 2020 và sút giảm nhanh chóng trong những năm tiếp theo, thì Việt Nam sẽ còn bao nhiêu chiếc máy bay sử dụng được vào năm 2030 ? Một người bạn Pháp của tôi – đang là nghiên cứu sinh của Harvard về Năng lượng – khi biết chuyện này chỉ mỉm cười: “Bon Voyage, Vietnam Airlines !”
Nên nhớ: Lịch sử thì lập lại, nhưng cơ hội thì không lập lại. Một đất nước lớn lên không chỉ nhờ mức tăng trưởng GDP hay chỉ số tiêu dùng cao. Tầm cao của một dân tộc còn được quyết định dựa trên khả năng biết phân biệt giữa cơ hội phát triển và mối đe dọa.

(đăng trên Tuổi Trẻ Online: http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=243365&ChannelID=119)

Một phản hồi

  1. một chủ đề lạ trên giới blogger

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: