MỘT THẾ GIỚI +2°C

Một báo cáo gần đây do hơn 70 chuyên gia hàng đầu về khí hậu của Liên Hiệp Quốc đã cảnh báo: “Không bao lâu nữa, số phận của băng và tuyết trên thế giới – hậu quả của cuộc khủng hoảng khí hậu – sẽ trở thành vấn đề hàng đầu được nhắc đến tại mỗi bộ ngành, nơi mọi phòng họp và trong mọi phòng khách, từ Berlin đến Brasilia, từ Bắc Kinh đến Boston” (www.unep.org/geo/geo_ice/PDF/full_report_LowRes.pdf).

+2°C là điều chắc chắn
Khi mật độ CO2 có trong bầu khí quyển đạt giới hạn 450 ppm (phần triệu), nhiệt độ toàn cầu sẽ tăng 2°C. Hiện nay, con số này đã là 390ppm. Với kiểu kinh doanh như thường lệ của các tập đoàn kinh tế lớn, thêm 60ppm chẳng có ý nghĩa gì, khi mà ngay cả IPCC (Ủy ban Liên chính phủ về Thay đổi Khí hậu của Liên Hiệp Quốc) vẫn ngây ngô tuyên bố: “Dự kiến tổng lượng khí thải nhà kính trên toàn thế giới cho đến năm 2100 là 1.600 tỷ tấn Carbon”. Trong khi đó, 1ppm CO2 = 2 tỷ tấn Carbon.
Một báo cáo khoa học được nhà khí tượng học Malte Meinshausen công bố vào năm ngoái đã đề xuất rằng nếu lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính chạm mức mật độ 550ppm đương lượng carbon dioxide, thì chúng ta có khoảng từ 63 – 99% xác suất nhiệt độ toàn cầu sẽ vượt ngưỡng 2°C. Ở mức 475ppm, xác suất này là 64%. Chỉ trong trường hợp mức mật độ được bình ổn trong giới hạn từ 400ppm trở xuống thì xác suất này mới không đáng kể.
Báo cáo nháp của IPCC cũng nhắc đến những con số tương tự. Mức mật độ 510ppm cho chúng ta cơ hội 33% để ngăn ngừa khả năng nhiệt độ tăng hơn 2°C. Mức mật độ 590 ppm chỉ còn cho chúng ta một cơ hội 10%.

Một thế giới mơ ngủ
Thế nhưng cho đến nay, không một chính phủ nào đặt ra nhiệm vụ cắt giảm khí thải đúng mức. Ngoài những con số bắt buộc cắt giảm khí thải lỗi thời của Nghị định thư Kyoto, Hội đồng Châu Âu và chính phủ Thụy Điển đã đặt ra những mục tiêu khắt khe nhất. Đó là con số 550 ppm, với khả năng chắc chắn sẽ làm tăng thêm 2°C.
Cùng lúc đó, chính phủ Anh đã làm trò ảo thuật rất thông minh. Mục tiêu của Anh cũng là “550ppm”, nhưng chỉ là 550ppm một mình carbon dioxide. Khi bạn cộng thêm cả những khí thải gây hiệu ứng nhà kính khác, con số này hóa ra là 666 ppm đương lượng carbon dioxide (một con số chính xác). Theo báo cáo của Achim Stern – Trưởng Chương trình Môi trường của LHQ, ở mức 650 ppm, chúng ta có từ 60 – 95% xác suất nhiệt độ tăng toàn cầu 3°C. Nói cách khác, mục tiêu của chính phủ Anh sẽ đưa toàn thể nhân loại vào tình trạng biến đổi khí hậu cực kỳ nguy cấp. Điều đáng suy nghĩ khi mà chính phủ Anh nhận ra họ đã đặt mục tiêu sai lệch cách đây ít nhất là bốn năm. Năm 2003, Bộ Môi trường Anh đã khám phá rằng “với một mức mật độ bình ổn 550ppm khí CO2 có trong bầu khí quyển, nhiệt độ toàn cầu có khả năng tăng lên từ 2°C đến 5°C”. Vào tháng 3 năm ngoái, chính phủ Anh đã thừa nhận rằng “một giới hạn gần mức 450ppm hay thậm chí thấp hơn, vẫn sẽ đạt mức tăng nhiệt độ 2°C”. Và cho đến nay, mục tiêu đó vẫn chưa được thay đổi. Tháng 10 vừa qua, ông Bộ Trưởng Bộ Môi trường David Miliband đã được hỏi về vấn đề này trên Bản tin Kênh 4 Đài Truyền hình Quốc gia. Ông này trả lời cứ như thể là chưa từng bao giờ biết được điều đó trước đây.
Hội đồng Châu Âu cũng nhận ra rằng họ đang sử dụng những con số sai lệch. Vào năm 2005, họ nhận thấy rằng “để có được cơ hội đáng kể ngăn chặn mức tăng nhiệt độ toàn cầu không quá 2°C, mức bình ổn mật độ khí thải nhà kính cần phải thấp hơn 550 ppm đương lượng CO2 “. Nhưng mục tiêu đó vẫn chưa được điều chỉnh.
Thế mà sự thật rằng hầu hết chúng ta vẫn chọn thái độ thờ ơ với con số giới hạn lạnh lùng này. Như tờ nhật báo New Statesmen của Anh gần đây ghi nhận: “Vào tháng tám hàng năm, người Anh vẫn mong muốn tu sửa các vùng duyên hải của mình với hy vọng rằng họ có được cơ hội phơi nắng trên bãi biển, và càng ngày, họ càng thích ngồi trong xe hơi, dự các buổi picnic, với cái gạt mưa trên tấm kính chắn gió. Nhưng bây giờ thì khác. Nước Anh đang gia nhập vào hàng ngũ các quốc gia phải đối mặt với khí hậu khắc nghiệt.” Đồng thời, tờ báo tự hỏi liệu người Anh đã thấu hiểu thông điệp mà sự thay đổi khí hậu đã gửi cho họ ngay lúc này, và câu trả lời đáng ghi nhận chính là: “Thống kê cho thấy công chúng vẫn có thái độ thờ ơ. Thậm chí với những người đã chấp nhận biến đổi khí hậu là một sự thật thay vì một giả thuyết, thì họ vẫn có khuynh hướng xem đó như là khởi đầu cho một nước Anh mới có cây thông xinh xắn và những bữa tiệc picnic vui vẻ.”
+2°C là điều chắc chắn. Vì thế, một kịch bản về tình trạng thế giới tăng thêm 2°C đã được các chuyên gia môi trường chuẩn bị để đặt lên bàn Hội nghị Toàn cầu sắp tới về Biến đổi khí hậu của Liên Hiệp Quốc tại Bali (Indonesia).

Kịch bản của một thảm họa toàn cầu
Một thế giới nóng hơn từ 2°C – 3°C chắc chắn sẽ hoàn toàn khác với thế giới mà chúng ta đang sống hiện nay. Một khi tiến trình băng tan được khởi động ở hai cực của Trái Đất, thật khó mà biết điều gì sẽ làm nó ngừng lại. Đây quả thực là một điều khó dự đoán, vì băng tuyết ở hai cực được hình thành từ nhiều lớp khác nhau, với các luồng hải lưu luân chuyển phía bên dưới. Lớp băng trên cùng thường ít bị tan nhanh chóng. Ngược lại, chính khả năng mang đi những luồng nước nóng của các dòng biển từ hai đại dương Thái Bình Dương và Đại Tây Dương sẽ gây tan rã nhanh các lớp băng phía dưới cùng. Ngay cả bản thân quá trình tan băng cũng sẽ tạo ra một nhiệt lượng nhất định do thải khí methan (một loại khí cũng gây hiệu ứng nhà kính). Ngoài ra, các vùng nước trống mang màu sậm do hậu quả tan băng sẽ thu hút nhiệt lượng mặt trời nhiều hơn các vùng băng tuyết phủ trắng (có khả năng phản chiếu ánh sáng), và đẩy mạnh quá trình “hâm nóng” hai cực của Trái Đất, dẫn đến một tiến trình tan băng mãi mãi.
Đó là chưa nói đến hậu quả của những “ao nước ngọt” khổng lồ do băng tan đang trôi nổi ở Bắc Băng Dương và Nam Băng Dương. Nếu những “ao nước ngọt” này có cơ hội di chuyển vào Đại Tây Dương, chúng sẽ cắt đứt các dòng biển mang khí hậu ấm đến cho Châu Âu và biến lục địa này trở lại thời kỳ băng giá. Cùng lúc đó, nước biển ấm hơn sẽ bồi thêm sức mạnh cho các trận “siêu bão” tấn công vào đất liền. Những siêu bão như Katrina (2005) và Ivan (2004) sẽ trở thành vị khách quen thuộc không mời mà đến của chúng ta trong tương lai.
Băng tan chắc chắn làm mực nước biển cao hơn bình thường, và một mét nước biển dâng trên toàn cầu sẽ gây thiệt hại 950 tỷ USD, đẩy trực tiếp 145 triệu người vào cảnh lụt lội. Vì thế, chính phủ Tuvalu đang lo lắng đàm phán với New Zealand để di chuyển một phần dân số của họ sang đảo quốc này, trước khi mặt đất dưới chân họ biến mất qua những làn sóng. Rachmat Witoelar – Bộ trưởng Môi trường Indonesia – nhận xét hóm hỉnh khi biết rằng nước mình sẽ mất 2.000 hòn đảo vào năm 2030 do khí hậu thay đổi: “Chúng ta vẫn còn tốt chán, so với những xứ sở đảo quốc khác, như Saint Lucia, Fiji, và quần đảo Bahamas. Chúng sẽ gần như biến mất trên bản đồ thế giới”.
Thời tiết khô hạn sẽ làm cho hiện tượng sa mạc hóa lan nhanh. Hiện nay, các đụn cát ở Sahara đang dịch chuyển ra khu vực sinh sống của con người từ 2 đến 3 dặm mỗi năm. Toàn bộ các thành phố vùng Mauritania bị chôn vùi dưới cát. Trong khi những cơn bão tuyết và cuồng phong càn quét Châu Âu và Châu Mỹ, thì hàng loạt các quốc gia nằm bên bờ Sahara sẽ phải đối phó với sự xâm lăng của cát. Cũng như băng tuyết, cát bụi với cuộc khủng hoảng khí hậu, trở nên ngày càng khó dự đoán đối với con người.
Sự suy yếu của các khu rừng nhiệt đới Amazon do nhiệt độ cao, cũng như xác suất cháy rừng lớn tại các khu vực khô hạn khác trên thế giới, sẽ hủy hoại buồng phổi của Trái Đất. Ngược lại, khả năng hấp thụ CO2 của các đại dương cũng đến mức bão hòa. Độ pH của đại dương sẽ giảm đi 0.31 đơn vị vào cuối thế kỷ này khi mật độ CO2 có trong bầu khí quyển đạt mức 1.000ppm. Đi cùng với hiểm họa này chính là hiện tượng axít hóa nước biển, ngăn trở quá trình vôi hóa (CaCO3) của đa số các chủng loài san hô biển. Và như thế, các rặng san hô – nơi cư trú của 25% động thực vật biển – sẽ biến mất.
Với +2°C, gấu bắc cực và các chủng loài hải cẩu nam cực sẽ bị tuyệt chủng. 30% khối lượng tuyết trên dãy núi Rocky ở Mỹ bị tan chảy và những rừng sồi ở New England sẽ di cư lên phía Bắc xứ Maine (Mỹ) và miền Nam Canada. Cùng lúc đó, các nghiên cứu từ nay cho đến năm 2050 cho thấy 30% các chủng loài động thực vật trên toàn cầu sẽ bị tuyệt chủng. Khi nhiệt độ tăng 0,1°C mỗi thập niên, gần 5% các hệ sinh thái không thể thích nghi kịp thời.
Thời tiết nóng làm tình trạng thiếu nước càng trở nên trầm trọng. Theo dự báo của IPCC, hơn 1 tỷ người ở Châu Á sẽ đối mặt với tình trạng thiếu nước vào năm 2050. Vào năm 2080, con số này sẽ là 1,1 đến 3,2 tỷ người. Nhân cơ hội đó, các căn bệnh như dịch tả, sốt xuất huyết, sốt rét sẽ trở thành đại dịch, khó có thể dập tắt một sớm một chiều. Vào năm 2080, dự đoán số người bị đói do khủng hoảng khí hậu sẽ là từ 200 triệu đến 600 triệu. Thủy triều dâng tạo ra các cuộc di cư khổng lồ làm đứt gãy cấu trúc dân số và khả năng phân phối lương thực trên toàn cầu. Không bao lâu nữa, thuật ngữ “tị nạn khí hậu” sẽ xuất hiện nhan nhản trên truyền thông đại chúng.
Nền văn minh loài người trong 10.000 năm qua – kể từ khi chấm dứt Kỷ nguyên Băng hà – đã phát triển trong điều kiện khí hậu khá thuận lợi. Chúng ta sẽ khó biết được khả năng đối phó của nền văn minh này trước những điều kiện khí hậu khắc nghiệt đồng bộ xảy ra trên toàn cầu. Và điều quan trọng nhất chính là, chúng ta không thể yêu cầu môi trường chờ đợi trong khi bận rộn xây dựng những nền kinh tế lãng phí. Thiên nhiên có khả năng “shut down” bất cứ nền kinh tế nào nếu thấy không phù hợp với lợi ích chung của cộng đồng sống trên toàn cầu.

(Đăng trên Tuổi Trẻ Online: http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=233081&ChannelID=119)

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: