CƠN CÁM DỖ CUỐI CÙNG

Người Arab Saudi có câu ngạn ngữ hiện đại rất khiêm tốn: “Cha tôi cưỡi lạc đà. Tôi lái xe hơi. Con trai tôi đi máy bay. Còn đứa con của con trai tôi sẽ lại cưỡi lạc đà” để nói về tính phù du của dầu hỏa, mặc dù đất nước này đứng đầu thế giới về trữ lượng dầu (261.750 triệu thùng dầu). Giá dầu đã chạm mức 100 USD/thùng. Đó không phải là một con số xa lạ gì, trong thời buổi mà diễn đàn dầu mỏ TheOildrum.com vừa thuật lại lời khuyên của vị cố vấn cấp cao về năng lượng – Ông Andris Piebalgs trước Liên minh Châu Âu vào năm 2006: “Đỉnh điểm dầu mỏ (Peak Oil) không còn là một lý thuyết”. (tham khảo: http://europe.theoildrum.com/node/3513)

Cuộc chạy đua đã bắt đầu. Giờ đây, người ta đang tiên đoán một con số lớn hơn: 150 USD/thùng dầu (theo tờ The Guardian hôm 15/11/2007: http://www.guardian.co.uk/business/2007/nov/15/oil.saudiarabia), rồi lớn hơn nữa: 380 USD/thùng dầu vào năm 2005 (theo dự đoán của các chuyên gia Ngân hàng Đầu tư Ixis-CIB – Pháp: http://www.boursorama.com/forum/message.phtml?file=338553737&pageForum=7).
150 USD hay 380 USD đều không quan trọng. Điều quan trọng là nhiều quốc gia vẫn còn ngây thơ nghĩ rằng đó là những con số đã “rất, rất” lớn. Và có thể họ sẽ không tưởng tượng và đương đầu nổi với sự kiện khi mà một ngày nào đó, tất cả mọi mỏ dầu đều treo bảng “Ngưng hoạt động vì đã hết sạch”.

Cơn thỏa mãn cuối cùng của những con nghiện
Nỗi sợ không còn dầu để mà dùng đang hành hạ những trung tâm quyền lực nhất thế giới. Sự cố gắng vớt vát chút nhiên liệu hóa thạch còn sót lại càng làm rõ những biểu hiện của cơn nghiện dầu mỏ, khi mà các tập đoàn dầu khí Mỹ và Trung Quốc đang tưởng tượng những mỏ cát nhựa hắc ín (tar sand) ở vùng bắc Alberta và một phần Saskatchewan (Canada) như là một El Dorado mới (El Dorado là một vùng đất mơ ước của những kẻ đào vàng, nơi mang truyền thuyết của thổ dân Bắc Mỹ có chứa rất nhiều vàng). Theo Energy Bulletin (nguồn tham khảo: http://www.energybulletin.net/22358.html), “những kẻ mất trí vì thứ tạp chất gọi là dầu” này dường như phớt lờ việc chỉ số EROI của cát nhựa hắc ín Canada, nếu đem so sánh với than đá (80:0), dầu mỏ (20:0), và khí đốt (15:0), là rất thấp: trong khoảng chỉ từ 4:0 đến 1:0. (nguồn tham khảo: http://www.minor-heresies.com/?m=200611 hoặc trên diễn đàn Oildrum: http://www.theoildrum.com/node/3412)
Nên biết rằng EROI (tỷ lệ giữa tổng mức năng lượng thu về so với mức năng lượng được dùng để hoạt hóa bản thân quá trình thu về đó) là một công thức tuyệt đối của cố thiên tài Richard Feynman (1918 – 1988) nhằm bảo đảm tính khả thi và hiệu quả cho bất cứ nguồn năng lượng nào. Lý thuyết này cũng tương tự như việc một người sử dụng năng lượng của chính mình để cầm đũa gắp thức ăn. Anh (cô) ta có đủ sức để cầm chiếc đũa gắp được thức ăn bỏ vào miệng, từ đó bổ sung thêm năng lượng cho cơ thể, hay không ? Điều đó rất quan trọng, bởi vì: Chức năng căn bản nhất của tất cả mọi chủng loài chính là sử dụng năng lượng để thu được nhiều năng lượng hơn từ môi trường. Khi năng lượng được dùng để hoạt hóa các hoạt động có lợi, năng lượng sẽ suy biến từ trạng thái có định tính cao sang trạng thai có định tính thấp. Điều này có nghĩa là mọi hệ thống đều phải liên tục thay thế nguồn năng lượng mà chúng sử dụng, và khi làm thế thì cần nhiều năng lượng hơn.
Các kỹ thuật và công nghệ dùng để chiết xuất và tinh chế dầu từ cát nhựa hắc ín rất tốn tiền và phải dùng nhiều năng lượng. Điều này chẳng khác gì bỏ con tôm, bắt con tép. Hơn nữa, trữ lượng dầu có trong những mỏ cát nhựa hắc ín này sẽ không quá 2 tỷ thùng, mặc dù Energy Bulletin trích dẫn lời nói nửa nghiêm túc, nửa mỉa mai của giáo sư David Hughes (thuộc Viện nghiên cứu địa lý Canada – GSC): “Vẫn còn nhiều hy vọng để có thể tiếp tục kinh doanh như bình thường … trong một thế giới mà người ta khai thác dầu không theo kiểu chính quy như trước. Cứ cho cái đống vàng đen đó có trữ lượng lên đến 3 tỷ thùng đi nữa, thì với cách thức khai thác như thế, mọi chuyện cũng trở thành vô nghĩa”. (nguồn tham khảo: http://www.energybulletin.net/22358.html)
Tương tự, theo những dự đoán của tờ The Economist (tham khảo http://www.economist.com/theworldin/displaystory.cfm?story_id=10105011), Bắc cực trong năm nay (2008) sẽ là nơi nóng nhất trên thế giới, không phải do “scandal băng tan” do hiện tượng nóng lên toàn cầu, nhưng vì một cuộc đổ xô đi tìm dầu nơi đáy biển mới bị lộ ra bởi băng tan, cũng tàn nhẫn không kém cơn đói vàng Gold Rush ngày xưa tại California. Cơn cám dỗ cuối cùng đã đến, mặc cho những cảnh báo nhằm đánh thức mọi người về cuộc khủng hoảng khí hậu, giới hạn của sự tăng trưởng, giới hạn CO2, hay thói quen tiêu dùng vô độ.

Chênh lệch giữa cung và cầu
Đã qua rồi giai đoạn mà loài người có thể ung dung khai thác dầu. Lý thuyết Hubbert về đỉnh điểm khai thác dầu đã bắt đầu có tác dụng, và được Ts. Bùi Văn Đạo (thuộc tập đoàn khai thác dầu khí GustoMSC Inc., Houston, Mỹ) – cảnh báo tại Hội thảo hè về phát triển năng lượng Việt Nam năm 2005 (Đà Nẵng): “Cơn sóng thần về khủng hoảng giá dầu sẽ chia làm ba đợt. Đợt 1: những suy giảm nhỏ về sản lượng dầu. Chúng ta đang ở trên đỉnh của đợt đầu, như mức tăng giá 100 USD/thùng dầu vừa qua. Đợt 2: dự báo sẽ xảy ra vào khoảng từ năm 2009-2010, khi các nước không thuộc OPEC đạt đến mức đỉnh sản lượng dầu. Sau thời điểm này, sản lượng dầu của họ sẽ giảm dần. Đợt 3: Các nước OPEC đạt đến mức đỉnh sản xuất, và sau năm 2020, sản lượng dầu sẽ giảm dần”. (nguồn trích dẫn: http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai8/200608_BuiVanDao.htm). Những nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, nằm ở đâu trong các cơn sóng này ?
Ở thời điểm hiện tại, sự chênh lệch giữa mức cung và cầu về nguồn dầu mỏ là không lớn, nhưng sau 10 năm, 20 năm thì sao ? Một khi sản lượng dầu của khối OPEC đã đạt mức đỉnh và suy giảm dần, khoảng chênh lệch này ngày càng mở rộng. Nằm trong biên độ của sự chênh lệch nguồn cung cầu dầu mỏ là sức cạnh tranh về nhu cầu tiêu thụ dầu của các quốc gia trên thế giới. Nếu dựa trên thống kê về tổng sản lượng dầu thế giới năm 2007 là 86,5 triệu thùng/ngày (nguồn tham khảo: http://internationaltrade.suite101.com/article.cfm/top_oil_consuming_countries), thì nhu cầu của Mỹ chiếm 25% nguồn cung dầu mỏ thế giới (21 triệu thùng/ngày), Trung Quốc chiếm 8% (7 triệu thùng/ngày), Nhật chiếm 6% (5,4 triệu thùng/ngày), Ấn Độ chiếm 3% (2,7 triệu thùng/ngày) … Căn cứ theo số liệu thuyết trình về chính sách an ninh dầu mỏ của Phòng Năng lượng và Dầu khí thuộc Bộ Công thương Việt Nam trước IEA (Cơ quan Năng lượng Quốc tế – International Energy Agency), mức tiêu thụ dầu của Việt Nam là 12,4 MMTPA (Million Metric Ton Per Anum – triệu mét tấn hàng năm) (trích nguồn: http://www.iea.org/Textbase/work/2007/bangkok/truong_son.pdf). 1 mét tấn = 7,33 thùng dầu. Như vậy, trong năm 2007, nhu cầu tiêu thụ dầu hàng ngày của Việt Nam là 249.000 thùng (chiếm 0,29% nguồn cung thế giới).
Kết luận: 249.000 thùng chẳng là gì cả so với các con số cạnh tranh khổng lồ ở trên ! Điều đáng buồn là tổng số 12,4 MMTPA dầu ở trên được nhập khẩu 100% từ nước ngoài.

Những gợi ý cho Việt Nam
Những phân tích ở trên không phải chỉ để vạch ra cái yếu kém của ngành dầu khí Việt Nam. Đó còn là gợi ý cho tương lai của Việt Nam, cả về mối đe dọa và những lợi thế, nhằm chuẩn bị cho một chiến lược phát triển khi sản lượng dầu thế giới đạt mức đỉnh và bị suy giảm:
1. Việt Nam sẽ nằm trong số những quốc gia đầu tiên lâm vào tình trạng thiếu dầu nghiêm trọng (sức cạnh tranh về mức tiêu thụ dầu không đủ mạnh – trên cả hai khía cạnh kinh tế và quân sự). Liệu Bộ Công Thương có “ngây thơ” quá mức khi tuyên bố trong bản báo cáo trên với IEA: “Khi vấn đề đổ vỡ xảy ra trong tương lai, Việt Nam sẽ yêu cầu sự hỗ trợ và hợp tác của quốc tế để bảo đảm an ninh nguồn cung dầu mỏ” ?
Tuy nhiên, 0,29% có nghĩa là không quá phụ thuộc vào dầu mỏ và là thế mạnh của chúng ta. Thách thức ở đây chính là sự kiềm chế không lệ thuộc vào dầu khí trong thời gian sắp tới, cùng với một chính sách phát triển bền vững dựa trên các nguồn năng lượng khác. Một chiến lược đầu tư dùng GDP để nghiên cứu và phát triển các nguồn năng lượng thay thế khác cần được Việt Nam đặt ra ngay trong giai đoạn hiện nay. Bên cạnh đó là một chính sách ngoại giao tương tự.
Tại sao chúng ta không cùng các nước đang phát triển khác gây sức ép về mặt môi trường đối với nhóm các quốc gia phát triển ? Điều này có thể làm được, trước một Trung Quốc và một Ấn Độ vẫn cứ hung hăng tăng trưởng bất chấp những cảnh báo về giới hạn của môi trường Trái Đất. Việc đàm phán, thỏa thuận và yêu cầu giữa hai bên trên nền tảng phát triển bền vững có thể đem đến cho Việt Nam các công nghệ sạch và bền vững, thay vì là những đồng đô la rẻ mạt được trả cho từng hecta rừng được bảo tồn dựa trên quy chế buôn bán carbon hiện nay. Dĩ nhiên, việc phá rừng cần bị nghiêm cấm, nhưng Việt Nam sẽ lại là một đất nước nông nghiệp (chuyên đi trồng rừng) hay trở thành một quốc gia phát triển với nền công nghệ sạch và xanh ?

2. Nếu tự cung tự cấp bằng cách khai thác các mỏ dầu nằm trên thềm lục địa (trong điều kiện chúng ta có được nhà máy lọc và hóa dầu), trữ lượng dầu khí của Việt Nam quá nhỏ (2,7 tỷ thùng (tham khảo Tuổi trẻ Cuối tuần 20/08/06, bài: “Dầu khí Việt Nam: nhiều hay ít ?” của tác giả Hữu Nghị) – so với Arab Saudi là 261,75 tỷ thùng) đến mức chỉ nên dùng số dầu này trong một số các lĩnh vực cần thiết (vd: quốc phòng, y khoa, công nghệ cao). Việt Nam cần có một kế hoạch và tiến độ cụ thể để sử dụng số nguyên liệu hóa thạch này một cách hiệu quả nhất. Nên lưu ý rằng trong báo cáo trên của Bộ Công Thương, 56% dầu nhập khẩu được sử dụng cho mục đích vận tải và giao thông. Liệu con số này có xứng đáng ? Điều quan trọng hơn nữa chính là tránh để nguồn tài nguyên dầu khí quốc gia trở thành cái cớ cho những tư lợi cá nhân. Hiển nhiên Việt Nam đã có nhiều quan chức cao cấp trong ngành dầu khí bị truy tố. Lời cảnh báo của Ts. Bùi Văn Đạo trong bài tham luận ở trên rất rõ: “Tham nhũng đã là quốc nạn đối với một số quốc gia sản xuất dầu khí trên thế giới. Có dầu tưởng là may mắn, nhưng đã trở thành lời nguyền rủa cho các quốc gia này. Hy vọng dầu khí sẽ không là lời nguyền cho Việt Nam”.

3. Việt Nam cần xây dựng một chiến lược tổng thể ngay từ bây giờ, trong tất cả mọi lĩnh vực: Chính trị, kinh tế, giáo dục, an sinh xã hội … Hãy tập cho giới trẻ biết cách tiết kiệm và sử dụng hiệu quả nguồn năng lượng. Hãy yêu cầu người tiêu dùng biết cách tiêu dùng có trách nhiệm hơn với tổ quốc. Hãy thay đổi thói quen sống lãng phí của xã hội bằng một nếp sống có trật tự và tự chủ. Tại sao không, vì đó là những biểu hiện yêu nước rất cụ thể. Cần phải thay đổi, khi những thay đổi làm đổi thay mọi thứ !

“Hãy thức tỉnh ngay từ bây giờ !” – Đó là lời kêu gọi của hàng loạt diễn đàn dầu mỏ uy tín tại nhiều quốc gia trên thế giới (có thể tham khảo: Singapore: http://simontay78.wordpress.com/; Tờ Telegraph (Anh): http://www.telegraph.co.uk/news/main.jhtml?xml=/news/2006/12/24/noil24.xml; Mỹ: http://www.commondreams.org/views05/0916-28.htm, http://www.hubbertpeak.com/, hay http://www.cafepress.com/peakoilaware/). Một đất nước lớn lên không chỉ nhờ mức tăng trưởng GDP hay chỉ số tiêu dùng cao. Tầm cao của một dân tộc còn được quyết định dựa trên khả năng biết phân biệt giữa cơ hội phát triển và mối đe dọa.

2 phản hồi

  1. Gửi Đạt Ân!
    Chúng ta đang sống trong một thế giới mà sự vận động của nó đang bộc lộ nhưng mâu thuẫn lớn.Sự phát triển và giàu có ở khu vực này đồng thời với sự nghèo khó và bần cùng ở nơi khác. Một bộ phận nhỏ cư dân nắm giữ và tiêu dùng một cách hoang phí nguồn tài nguyên của thế giới, nhưng một bộ phận khác, lớn hơn, đang phải vật lộn với cuộc sống cho những nhu cầu căn bản để sinh tồn.Con người xây dựng cho mình một nền văn minh vật chất đồ sộ nhưng cũng sắm cho mình phương tiện để hủy diệt chính nền văn minh đó chỉ bằng một cái ấn nút đơn giản. Kể từ khi cuộc cách mạng công nghiệp bắt đầu, con người đã tiến nhưng bước dài trong việc nhận thức thế giới và khai thác tự nhiên nhưng con người không nhận thức được rằng suy cho cùng con người cũng chỉ là sản phẩm, một bộ phận không thể tách rời của giới tự nhiên, hành động khai thác quá mức tự nhiên cũng đồng nghĩa với việc khai thác quá mức chính bản thân mình.Giới tự nhiên đã phản công và con người phải nhận lấy những hậu quả cho những hàng động ” chinh phục và cải tạo thế giới”. Trong suốt lịch sử tồn tại của mình, có những nền văn minh rực rỡ từng tồn tại nhưng rồi đã sụp đổ do sự khai thác tự nhiên quá mức của mình, nhưng con người không rút ra những bài học đó để tìm ra một phương cách sống phù hợp. Tôi nghĩ nếu con người chịu nhìn vào lịch sử họ sẽ tìm ra câu trả lời đúng. Ngày xưa sự suy thoái môi trường sống chỉ diễn ra ở một bộ phận nào đó của giới tự nhiên, con người có thể di cư đến một địa điểm khác và vẫn có thể tiếp tục tồn tại nhưng ngày nay mọi thứ đã hoàn toàn thay đổi, sự suy thoái trong thời đại ngày nay ở qui mô rộng lớn, toàn diện và nghiêm trọng hơn nhiều. Giải quyết nó cũng là giải quyết các vấn đề cho sự phát triển thế giới.
    Hôm nay tôi chỉ muốn góp thêm ý kiến về vấn đề ấm lên toàn cầu mà bạn đã đề cập nhiều trong các bài viết của mình.Gần đây cũng có nhiều nỗ lực để giải quyết nó, nhưng những nỗ lực đó đã không mang lại kết quả thậm chí còn làm cho vấn đề phức tạp hơn.Để giảm lượng khí thái nhà kính vả giảm bớt sự phụ thuộc vào đầu mỏ, người ta đã tiến hành sản xuất nhiên liệu sinh học từ cây cọ dầu, những cánh rừng ở Malaysia đã được phát quang để trồng cọ dầu, nhưng theo tính toán cưa các nhà khoa học môi trường thì năng suất hấp thụ CO2 của các cánh đồng cọ dầu thấp hơn nhiều so với cấc cánh rừng nguyên thủy. Như vậy kết quả hoàn toàn trái ngược với mục đích đề ra. Cũng với mục đích tương tự, Mỹ cũng tiến hành sản xuất nhiên liệu sinh học từ bột ngô, ở một và nơi khác là từ sắn và khoai, những thứ nguyên liệu vẫn được con sử dụng làm nguồn lương thực chính cho mình. Kết quả vủa việc này cộng với sự biến đổi khí hậu làm cho năng suất mùa màng giảm sút đã đẩy thế giới đến bờ vực của nạn đói, đối mặt với sự khủng hoảng lương thực toàn cầu, mà biểu hiện gần đây nhất là giá lương thực và thực phẩm trên toàn thế giới tăng lên vùn vụt, có nơi tăng rất cao vướt quá khả năng chịu đựng của nhiều người. Nếu vấn đề ” miếng ăn” không được giải quyết thì hậu quả kéo theo sẽ rất nặng nề, thay cho cuộc sống thanh bình sẽ là những cuộc chiến sinh tồn mà những vụ bạo loạn gần đây ở Ai Cập, Burkina Faso, Cameroon vì thiếu lương thực là những biểu hiện đầu tiên.Trong những cuộc chiến như thế này chẳng có ai thắng lợi và tồn tại cả: không chết vì đánh nhau cũng chết vì đói.
    Để giải quyết vấn đề cần có sự nghiên cứu toàn diện và tổng thể, một cách tiếp cận khác. Đây là những vấn đề cần giải quyết và hành động ngay.
    Liệu chúng ta có giải quyết được tận gốc của vấn đề này? Nhân loại có đủ phương tiện và tiền bạc để giải quyết không? Chi phí cho nó là đắt hay là rẻ?
    Rất mong được nghe ý kiến từ phía bạn! Thân chào.

  2. Thân chào Anh Hữu Thế,

    Tôi rất vui được cùng chia sẻ với anh. Tôi nhận thấy anh rất quan tâm đến vấn đề năng lượng và phát triển bền vững – một vấn đề mà tôi cũng đang mong chia sẻ cùng với anh.
    Khi anh đặt câu hỏi về một hướng giải quyết cho toàn bộ điều này, tôi chỉ xin nêu ra các quan điểm cá nhân và kinh nghiệm nghiên cứu của riêng mình để chia sẻ với anh rằng: điều đó rất đơn giản để giải quyết, nhưng chúng ta cũng đang gần như mất hy vọng hoàn toàn để giải quyết được nó !

    Sở dĩ tôi có được những phân tích và bài viết khá sâu sắc về vấn đề môi trường toàn cầu, về phát triển bền vững và năng lượng, là vì tôi có duyên được trò chuyện và trao đổi với nhiều chuyên gia đầu ngành của thế giới (vd: Noam Chomsky – nhà phê bình xã hội của RMIT, James Hansen – Giám đốc Học viện nghiên cứu không gian Goddard của NASA, James Howard Kunstler – tác giả cuốn The Long Emergency, và Raja Sohail Bashir – tác giả tác phẩm nghiên cứu phát triển Planet Titanic). Trong thời gian gần đây, tất cả bọn họ đều cho rằng một giải pháp cho vấn đề này là rất đơn giản, nhưng loài người không thể thực hiện được, và do đó chúng ta đã hoàn toàn mất hy vọng !

    Về điều này, tôi cũng đang sắp có một loạt bài viết, mà không xa sẽ gửi tặng anh trước. Tuy nhiên, hôm nay, tôi xin đưa ra một số ý tóm tắt trước, mà tôi hy vọng là anh sẽ phải suy nghĩ rất nhiều (ở Việt Nam, khi tôi đưa ra quan điểm riêng này, không có mấy người chịu khó suy xét về những vấn đề này, ngay cả một số người lãnh đạo quốc gia!).

    Thứ nhất, tôi xin đề cập đến vấn đề năng lượng: một sự thật mà chúng ta nên ý thức rằng trong thế giới này, bất cứ một sinh thể nào cũng cần phải có năng lượng để tồn tại và phát triển. Định luật bảo toàn năng lượng không phải là một lý thuyết chỉ để học thuộc lòng – đó là nguyên tắc của sự sống. Mục đích chính của chúng ta trong cuộc đời này là cần có năng lượng để sống và để tạo ra năng lượng nhiều hơn để sống tiếp. Một quy tắc vàng rất đơn giản, nhưng dường như nền văn minh này đang vi phạm rất nặng nề quy tắc này. Và họ đã không chia sẻ đều năng lượng cho mọi người – và lại xem thường năng lượng, để chỉ sử dụng vào những mục đích tầm thường nhằm vun vén cho riêng bản thân (như vận chuyển sản phẩm chẳng hạn). Thêm một nguyên tắc nữa để con người sống tốt hơn: năng lượng chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác, nhưng không mất đi (lại định luật bảo toàn năng lượng nữa). Vậy thì con người nên sử dụng những nguồn năng lượng thô để chuyển tiếp nó sang những dạng năng lượng cao cấp hơn, hoặc để sáng tạo ra những phương tiện khác để dùng năng lượng hiệu quả hơn. Ngoài ra, con người nên dùng năng lượng cho những nhu cầu căn bản của cuộc sống (anh có thể tham khảo thang bậc nhu cầu của Abraham Maslow), chứ không phải để cho những lợi ích xa xỉ không cần thiết khác. Chính sự tham lam và động lực kinh doanh tư bản đã vi phạm nghiêm trọng những nguyên tắc trên. Thêm một điều nguy hiểm nữa, là hiện nay người ta đang lầm lẫn giữa năng lượng và phương tiên tạo ra năng lượng. Họ trông đợi vào cái gọi là kỹ thuật và công nghệ, mà cho rằng nhờ những thứ đó, họ sẽ sống sót. Anh cũng đã nhận thức ra điều này, phải không ạ ? Tôi có nghiên cứu về một kế hoạch B cho Trái Đất (kế hoạch để nhân loại tồn tại mà không có dầu hỏa), và thấy rằng: Dù con người có trồng toàn bộ cây cọ dầu bao phủ diện tích mặt địa cầu, thì họ vẫn không có đủ dầu sinh học để cung cấp cho một nhu cầu năng lượng như hiện nay. Ngay cả năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng thủy triều, hay năng lượng địa nhiệt – chúng là những nguồn năng lượng mà chúng ta rất phụ thuộc vào tự nhiên, khí hậu (một vấn đề khủng hoảng như hiện nay) – cũng thế ! Và lĩnh vực điện hạt nhân lại càng nguy hiểm hơn, khi mà trong bầu không khí chia rẽ về sắc tộc và chính trị, con người sẵn sàng sử dụng năng lượng hạt nhân để tiêu diệt đồng loại và chính mình ! Vấn đề cuối cùng là gì: Con người nên tập sống tiết kiệm dù đã quá trễ, nên chia sẻ đồng đều nguồn năng lượng, và định hướng một chiến lược tự cung tự cấp nguồn năng lượng trong phạm vi địa phương (về vấn đề này, anh có thể tham khảo cách dùng năng lượng mặt trời để sưởi ấm qua phương thức Monbiot’s Heat). Vấn đề năng lượng trong tương lai sẽ làm cho con người bị phân rẽ, không chỉ là bằng chiến tranh, sự tranh giành, hay phụ thuộc, mà bằng sự phân hóa nguồn năng lượng giữa các địa phương với nhau. Mỗi thành phố sẽ trở về một hình thức như giai đoạn thời Trung Cổ, như những pháo đài biệt lập – nhưng có trình độ công nghệ và kỹ thuật đủ để tự cung tự cấp cho mình nguồn năng lượng đủ dùng. Sẽ không còn những dạng như nhà máy thủy điện cung cấp lưới điện cho toàn quốc gia, hay những lò nguyên tử cung cấp điện cho một vùng rộng lớn. Và như thế, tôi mới cho rằng lý thuyết thế giới phẳng của Thomas Friedman sẽ bị sụp đổ vào một ngày không xa.

    Khi bàn về Việt Nam nói riêng, tôi lo lắng hai điều: (1) Dầu thô là một nguồn nguyên liệu có hạn, không thể khai thác mãi mãi được – năm 2020 sẽ được dự đoán là năm mà trữ lượng khai thác dầu bắt đầu vượt qua mức đỉnh và suy giảm; (2) Nhu cầu tiêu thụ năng lượng của thế giới, đặc biệt là dầu hỏa, đang ngày càng tăng cao. Nếu hình dung trên biểu đồ, thì chúng ta có thể thấy hai đường parabol biểu thị cho sản lượng khai thác dầu và nhu cầu tiêu thụ dầu, và hai đường này ngược chiều nhau – một đường đi xuống, một đường đi lên. Biên độ chênh lệch giữa chúng sẽ nhanh chóng ngày càng lớn. Về nhu cầu tiêu thụ năng lượng, Mỹ, Trung Quốc, Nhật, Ấn Độ, Châu Âu là những khu vực tiêu thụ dầu lớn nhất thế giới, và họ đã có kho trữ dầu đề phòng xảy ra thiếu dầu. Với nhu cầu sử dụng dầu của mình, Việt Nam nằm ở đâu trong biên độ chênh lệch trên, và Việt Nam đã có những động thái gì để chuẩn bị cho cuộc khủng hoảng năng lượng này ? Khi sản lượng khai dầu chuẩn bị sút giảm, người ta sẽ có những động thái sau đây: Cắt bỏ trực tiếp những nhu cầu sử dụng dầu không cần thiết, cắt bỏ trực tiếp những quốc gia yếu thế trong cuộc đua tranh giành năng lượng hóa thạch, và sử dụng năng lượng cho những vấn đề an ninh, ví dụ như quốc phòng chẳng hạn. Vì thế, tình trạng thiếu dầu không còn là một lý thuyết, và không thể hiện ra theo cách dần dần, dễ đề phòng và nhận thấy. Tôi chỉ cho rằng vào một ngày không xa, khi chúng ta thức dậy, và đột nhiên thấy các cây xăng treo bảng: Không còn xăng để bán. Đó không còn là một chuyện đùa, khi mà Nga, Đan Mạch, Canada, Ireland, Na Uy đang có những động thái tranh giành chủ quyền khu vực Bắc Cực mới tan băng chỉ để kiếm thăm dò khai thác dầu trên vùng đất mới này, Mỹ đang thả nổi đồng USD theo giá dầu và yêu cầu khối OPEC tăng sản lượng khai thác, trong khi đó, khối OPEC, mà đại diện là Arab Saudi đang cố kiềm giữ sản lượng dầu bởi một lẽ: các mỏ dầu lớn nhất của họ đều đã vượt qua mức đỉnh khai thác dầu ! Họ không nói ra, nhưng tôi nhận thấy trong tất cả những chiến lược, suy tính và nước đi của các quốc gia này có dòng chữ dầu mỏ xuất hiện trong đó. Ngay cả Trung Quốc cũng đang hăm hở vun vén được chút dầu nào hay chút đó. Họ đã gây ra cuộc chiến và nạn đói ở Darfur (Sudan) để khai thác dầu dễ dàng hơn (báo chí Việt Nam không đăng tải nhiều về điều này !), và cũng muốn chiếm Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vì thế đấy ! Những chuẩn bị phân cực chính trị của thế giới ngày càng đi theo chiều hướng xấu đi: Mỹ tăng cường hệ thống phòng thủ ngay sát nách nước Nga, trong khi người Nga quyết tâm bỏ phiếu cho một thân cận của Putin lên làm tổng thống, và giữ Putin lại với vai trò thủ tướng trong tương lai nhằm bảo vệ nước Nga. Lò lửa Trung Đông cũng khó có thể dập tắt được, bởi vì chúng đang được đốt lên vì sự tranh giành nguồn dầu mỏ. Tôi nghĩ rằng Việt Nam chưa nên tham gia WTO vội, vì WTO chỉ bảo vệ quyền lợi cho giới tư bản một cách tinh vi (tôi sẽ phân tích điều này trong phần sau). Việt Nam chưa nên đầu tư xây dựng những cơ sở hạ tầng mà thế giới tư bản đang ruồng bỏ, vì chúng hao tốn năng lượng và có khả năng bền vững thấp. Việt Nam có cơ hội sống sót nhiều hơn khi không phụ thuộc quá nhiều vào những gì mà thế giới các quốc gia đang phát triển bị lệ thuộc. Việt Nam nên phát triển nền kinh tế của mình theo hướng bền vững, đầu tư vào những phương tiện hỗ trợ khả năng phát triển bền vững.
    Tóm lại, cách giải quyết cho vấn đề khủng hoảng năng lượng là gì: Con người nên chia sẻ đồng đều nguồn năng lượng (dưới dạng thực phẩm, dầu hỏa, công trình, kỹ thuật công nghệ …) cho mọi người, và sử dụng chúng thật hiệu quả cho các nhu cầu căn bản của sự sống. Tôi cảm thấy giải pháp trên là bất khả thi – vì chúng ta đang có một cơ chế tài chính kinh tế đi ngược lại điều này ! Thế thì tôi xin mạn phép phân tích về cơ chế tài chính kinh tế của thế giới ở phần sau.

    Thứ hai, tôi muốn đề cập đến nền tảng cơ cấu phát triển của nền kinh tế tài chính thế giới hiện nay – một nền kinh tế tài chính mà đại diện là nước Mỹ – đã có những biểu hiện suy thoái và khủng hoảng từ rất lâu rồi (chứ không phải hiện nay) vì các lý do sau đây:
    (1) Người Mỹ và giới tài chính Mỹ đã tiêu xài vượt trên giới hạn khách quan mà tự nhiên cho phép, cũng như giới hạn chủ quan mà trữ lượng tiền tệ của họ cho phép. Nếu đem so sánh mức năng lượng mà họ tiêu thụ hiện nay, thì anh có thể nhận thấy một người Mỹ có khả năng tiêu thụ năng lượng bằng 10 con voi trong một tháng (tôi tạm so sánh thôi – vua Henry của nước Pháp ngày xưa chỉ tiêu thụ một mức năng lượng bằng 1/10 một bạn trẻ người Mỹ hiện nay). Họ đã tạo cho mình một thói quen tiêu dùng khá lớn và nô lệ cho lối sống hưởng thụ vật chất.
    (2) Thị trường bong bóng của Mỹ là một điều hiển nhiên, khi mà cách tốt nhất để thúc đẩy nền kinh tế Mỹ hiện nay chính là tạo ra nhiều nợ hơn (dưới hình thức tín dụng, trả góp, cho vay, cầm cố …) để thúc đẩy tăng trưởng. Đó là một cách phát triển nguy hiểm, vì một khi bong bóng vỡ, toàn bộ hệ thống tiền tệ của Mỹ sẽ sụp đổ, kéo theo các hệ thống tài chính của các quốc gia khác. Ngoài ra, để tăng tính thanh khoản và khả năng hợp thức hóa các món tiền ảo, thị trường chứng khoán là một hình thức tinh vi đã được giới tư bản sáng tạo ra nhằm gom góp số tiền này vào các bộ máy tập đoàn kinh tế để kinh doanh và sinh lợi nhuận. Quả bong bóng càng to, càng cần những tập đoàn kinh tế lớn, và những mức tăng chỉ số chứng khoán nhằm tạo ra thanh khoản, và do đó, quán tính kinh doanh không thể dừng lại được. Trong khi đó, giới tư bản lại có thể tập trung những món tiền này, dù là có thực hay không có thực, thành một luồng xoay chuyển vốn chỉ để cung cấp cho họ các cơ hội thu gom và vun vén đặc quyền đặc lợi. Phần đông dân số nghèo không có phần trong này.
    (3) Cơ chế tạo ra tiền của các ngân hàng tư nhân và trung ương hiện nay của Mỹ là một cơ chế nguy hiểm. Đã từ lâu, đồng tiền không còn dựa trên những giá trị thực của nó: ví dụ như vàng, bạc, sản phẩm …. Chỉ bằng vài cú click và thiết lập một tài khoản, các ngân hàng có thể tạo ra một khối lượng tiền ảo (thông qua lãi suất, vay mượn tài chính), để rồi tìm cách chuyển đổi số tiền ảo bằng sản phẩm thực ngoài xã hội. Nếu nói rằng các ngân hàng tư nhân của Mỹ không có quyền in tiền, thì đó là một điều ảo tưởng. Tuy từ năm 1975, Nixon đã trao quyền in ấn và phát hành đồng USD lại cho Ngân hàng Liên bang (thuộc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ), nhưng thực chất, các ngân hàng tư nhân vẫn có quyền gián tiếp tạo ra USD bằng cách đề xuất các khoản nợ và lãi suất dư lên Ngân hàng Liên bang, và yêu cầu ngân hàng này cấp thêm dự trữ USD cho họ. đã Đến đây, tôi phải khẳng định với anh rằng kinh doanh ngân hàng là một trong những ngành kinh doanh tệ hại nhất của xã hội. Họ ăn cướp của xã hội những giá trị tích lũy một cách rất thông minh và hợp pháp. Giới ngân hàng đã vay mượn của xã hội cái mà chúng đã được phép tạo ra: họ nắm trong tay cơ chế để tạo ra đồng tiền. Và tôi nghĩ rằng những sòng bạc lớn nhất trên thế gới không phải nằm tại Las Vegas, Monaco, Macau, mà là tại các trung tâm tài chính London, New York, Tokyo. Bằng những thao tác ảo thuật tinh vi, giới tài chính tư bản đã nắm quyền lực tạo ra đồng tiền trong tay. Những đồng tiền được tạo ra không mang giá trị thực – và để có giá trị thực, họ bắt xã hội phải lao động và làm ra các sản phẩm tương ứng. Một trong những chứng cứ rất rõ ràng mà anh có thể nhận thấy hiện nay là việc Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) cắt giảm lãi suất cơ bản của các ngân hàng xuống và bơm thêm gần 130 tỷ USD (tôi chỉ tính tổng số lượng USD mà FED đã bơm từ cuối năm 2007 đến đầu năm 2008) nhằm giúp các ngân hàng tư nhân trả nợ tín dụng và bất động sản và giảm nhẹ gánh nặng của con nợ. Số tiền 130 tỉ USD này có giá trị thực không ? Tôi bảo đảm với anh rằng đây là một số tiền ảo. Và giờ đây, nước Mỹ được xem là quốc gia có thêm một mặt hàng xuất khẩu mới: xuất khẩu lạm phát. Đồng USD mất giá là một bằng chứng rất rõ ràng, và họ đang xuất khẩu những đồng USD này ra nước ngoài. Để hợp thức hóa số 130 tỉ USD này, xã hội lại phải gồng gánh để sản xuất ra một lượng sản phẩm thực tương đương, và do đó cần nhiều năng lượng hơn, và đốt nhiều dầu hơn, thải khí CO2 nhiều hơn, và làm cho tình trạng nóng lên toàn cầu càng nghiêm trọng hơn. Đó là lối mòn mà nền kinh tế tài chính thế giới không bao giờ thoát ra nổi. Họ đã bị mờ mắt vì những đồng tiền, và thói tiêu dùng hưởng lạc vô độ của mình. Tôi thực sự chẳng tìm được giải pháp nào cho vấn đề trên.
    (4) Một vấn đề nữa về kinh tế mà tôi mong được chia sẻ với anh, đó là động lực kinh doanh của các tập đoàn doanh nghiệp. Tôi chẳng có hy vọng gì vào những thứ đại loại như là tập đoàn này công bố cắt giảm khí thải, tập đoàn kia sẽ tài trợ cho phong trào bảo vệ môi trường, tập đoàn nọ lại loan tin chế tạo ra những sản phẩm có lợi cho môi trường và năng lượng. Một điều mà tôi tin chắc rằng, bất cứ tập đoàn kinh tế nào cũng đều hoạt động dựa trên một mục đích duy nhất: kiếm lợi nhuận và không màng tới bất cứ điều tệ hại nào mà họ đang gây ra. Những tài trợ, thề thốt, cắt giảm của họ chỉ có mục đích duy nhất là làm tăng doanh thu theo nhu cầu và xu hướng của người tiêu dùng. Tôi không cho rằng những thương hiệu có nhúng màu xanh lá cây (đây là một xu thế mà anh có thể nhận biết trong rất nhiều thương hiệu sản phẩm hiện nay) sẽ giúp cải thiện tình hình. Cho dù họ có chế tạo ra được một chiếc xe hơi hoàn toàn không chạy bằng xăng, thì chi phí năng lượng và những chất thải để chế tạo ra chiếc xe hơi đó cũng đủ để làm ô nhiễm môi trường rồi ! Đó chẳng qua là một cách để chiều theo thị hiếu và xu thế của thị trường tiêu dùng mà thôi ! Tôi cũng đã từng là một CEO về thương mại, nên tôi hiểu rất rõ động lực này của các doanh nghiệp. Khi một doanh nghệp tung ra một chiêu – ví dụ như chiêu dùng bao giấy để bảo vệ môi trường của hệ thống siêu thị Metro chẳng hạn – tôi nhận ra ngay động cơ phía sau của họ, và họ chẳng mất gì sau khi sử dụng chiêu đặc biệt này – các khách hàng Metro bị ấn tượng bởi triết lý kinh doanh và chính họ cũng phải tự mang theo những túi giấy mà Metro phát cho họ khi đi siêu thị. Trên túi giấy đó có ghi thương hiệu và slogan của Metro – một hình thức quảng cáo ! Tôi có một sự so sánh rằng, các doanh nghiệp kinh tế cũng giống như một đứa bé sơ sinh chưa trưởng thành. Họ sẵn sàng phá phách mọi thứ để đạt được thứ đồ chơi mà họ mong muốn có được. Khi đem một món đồ chơi để trước mặt một đứa bé đang biết bò, anh sẽ thấy y hệt như thế: đứa bé lập tức bò tới để lấy cho bằng được thứ đồ chơi mà nó trông thấy, bất chấp những ngăn trở và các món đồ chơi cũ khác trên đoạn đường mà nó phải vượt qua !

    Lại bàn về Việt Nam, tôi cảm thấy nên có một số phân tích mà giới lãnh đạo nên suy nghĩ. Tôi biết rằng – vì một số người Mỹ cho tôi biết, chứ tôi chẳng tự suy đoán ra được đâu – giới đầu tư Mỹ khi đầu tư vào Việt Nam đã được Ngân hàng Dự trữ Liên bang cấp cho USD để làm việc này (Điều này có thể thực hiện bằng nhiều cách, như đệ trình dự án đầu tư, lãi suất vay mượn đầu tư …). Họ in tiền để đầu tư vào nước ta – thật là một điều đơn giản và khôn khéo. Họ chẳng mất gì vì một lý do đơn giản: Đồng USD là đồng tiền mạnh (1 tỷ USD đem qua Thái Lan đầu tư thì khác một trời một vực với 1 tỷ VND), và chúng ta – là một nước đang phát triển – đang cần được đầu tư. Thế thôi ! Tất nhiên, những đồng USD mà họ dùng để đầu tư vào nước ta không mang giá trị thực (điều này tôi đã phân tích rất kỹ ở trên – ngay cả FED cũng dùng chiêu thức này cho chính nước Mỹ, vậy thì tại sao họ không thể dùng với chúng ta nhỉ ?) Và họ được gì ? Với những đồng USD ảo này, chúng ta phải: (1) Cung cấp nguyên vật liệu và nguồn tài nguyên cho họ để làm cơ sở hạ tầng (mà đây là để xây dựng những công trình cơ sở hạ tầng lỗi thời); (2) Cung cấp nguồn lao động giá rẻ; (3) In tiền thêm để bù vào khoản USD bơm vào thị trường địa phương; (4) sản xuất ra sản phẩm thực để bù lại số tiền ảo (quy trình này được gọi một cách rất mỹ miều là xuất khẩu).
    Việt Nam bị lạm phát là do đã tự ý in tiền để bù vào số USD ảo này, mà không có thực chất sản phẩm đi kèm. Và số tiền này được phân phối không đồng đều vì cơ chế quản lý kém và vì thói quen bao cấp của nhà nước. Chính các doanh nghiệp và tập đoàn quốc doanh đã gây ra điều này. Vấn đề này, tôi sẽ không phân tích trên, vì mấy hôm nay, quốc hội và chính phủ đang phân tích và xem xét. Tôi nghĩ rằng nếu họ yêu nước thực sự, họ sẽ có cách giải quyết. Theo tôi, có những giải pháp rất đơn giản để Việt Nam phát triển bền vững: (1) Không phụ thuộc nhiều vào số USD “nhập khẩu”, nhưng hãy cứ in VND ra, nhưng tạo ra một nền tảng thực cho số tiền này. Hãy dùng số tiền đó để nâng lương công nhân viên, người lao động, để đầu tư vào giáo dục và đào tạo nhằm có được một nguồn nhân lực thực chất làm cơ sở cho phát triển. Đừng để số tiền này bị rơi vào tay giới tài chính và ngân hàng, cũng như những tập đoàn kinh tế giàu có, nhưng hãy dùng để tạo ra những nền tảng căn bản cho sự phát triển, cho nhu cầu của người dân – Tôi nêu một ví dụ: Những năm chiến tranh thế giới thứ hai, Hitler và nước Đức đã chọn phương thức này, in tiền để đầu tư công nghệ quốc phòng và kinh tế trong nước và chỉ trong vài năm, người Đức suýt nữa đánh chiếm toàn bộ Châu Âu. Tuy nhiên, một điều khác biệt căn bản chính là: người Đức có nền tảng giáo dục và tinh thần yêu nước mãnh liệt, còn người Việt Nam thì không, ngược lại, chính phủ Đức đã dùng sai mục đích số tiền nhằm phục vụ cho chiến tranh; (2) Chọn lọc và tập trung đầu tư cho các dự án phát triển bền vững, trong đó có xem xét đến những điều kiện về thời gian tồn tại của dự án và mức độ khả thi trong tương lai; (3) Định vị lại mục tiêu phát triển của Việt Nam – chúng ta vẫn hay tự khoe rằng chúng ta có thể “đi tắt đón đầu”. Tôi nghĩ rằng không phải thế, vì người dân Việt Nam đang sử dụng lại những phương tiện mà thế giới phương Tây đang dần loại bỏ. Tôi cho rằng đây là thời điểm để Việt Nam có thể phát triển vượt bậc bằng cách đầu tư vào những công nghệ bền vững bằng cách chọn lọc cẩn thận từng bước đi của mình.
    Tôi có một ví dụ muốn chia sẻ với anh: Cách đây mấy tháng, cả nước đều vui mừng và phấn khởi vì Tập đoàn Intel đầu tư 1 tỷ USD vào một khu công nghệ cao ở Tp.HCM. Riêng tôi thì ngược lại. Tôi chỉ tự hỏi các điểm sau đây: (1) Có thật là đúng 1 tỷ USD hay không ? Các doanh nghiệp không lạ gì với chiêu thức quảng cáo này – hê lên một số tiền lớn để kêu gọi đầu tư thêm mà mình chẳng mất gì – các khu quy hoạch đất đai ở Việt Nam là một bằng chứng: lập dự án quy hoạch trước, bán đất và căn hộ ảo trước, có tiền rồi mới xây dựng. Chắc Intel cũng không lạ gì lối mòn này. (2) Nếu là 1 tỷ USD của riêng Intel thì bao gồm bao nhiêu % là công nghệ, bao nhiêu % là máy móc, bao nhiêu % là cơ sở hạ tầng xây dựng ? Tôi nghĩ với một tập đoàn công nghệ cao như Intel thì phần lớn trong số 1 tỷ USD này chính là các máy móc và công nghệ mà họ sẽ mang qua Việt Nam để người lao động vào sử dụng. Chi phí xây dựng chẳng là bao nhiêu, khi mà chính phủ Việt Nam chỉ đòi hỏi phương thức kiến trúc lỗi thời mà các quốc gia phát triển đã ngán ngẩm. Chúng ta cấp đất cho họ, họ được quyền sử dụng nguồn lao động rẻ ở Việt Nam (điều này rất rõ ràng), sản xuất một thời gian, thấy không còn kiếm chác gì nữa, thì họ rút toàn bộ số máy móc công nghệ về nước (dĩ nhiên, những bí quyết công nghệ, lẽ nào Intel lại tiết lộ với chúng ta – chỉ là ảo tưởng), ta được lợi gì ? Ngoài việc thu một số thuế rẻ mạt, một nhúm các công trình xây dựng lỗi thời, mảnh đất màu mỡ bị thoái hóa, ô nhiễm môi trường, thói quen tiêu xài xa hoa, chúng ta chẳng còn gì. Còn Intel được gì ? Họ chẳng mất gì cả, vì chi phí sản xuất sản phẩm tại Việt Nam rẻ đến nỗi đã bù được cả tiền đóng thuế, phân phối, lương lao động … mà họ vẫn có lời to. (3) Liệu trong số tiền 1 tỷ USD kia, bao nhiêu % được chi cho tham nhũng, hối lộ và lobby các phần tử xấu trong giới lãnh đạo. Người dân nghèo được hưởng gì ?(4) Trong trường hợp 1 tỷ USD là số tiền đơn thuần được “in ra” (tôi xin để chữ “in ra” trong ngoặc kép vì khả năng này được thực hiện bằng rất nhiều chiêu thức tài chính) chỉ để đầu tư sang Việt Nam, người Việt Nam chúng ta đang được trao “nhiệm vụ cao cả” để hợp thức hóa số tiền này bằng những sản phẩm có thực để phục vụ lại cho phương Tây. Bao nhiêu % người dân Việt Nam (nhất là người nghèo) có được khả năng tiếp cận với những công nghệ và sản phẩm này ? Tôi nghĩ rằng chưa đến 5% dân số. Vậy thì không nên làm những điều như thế.

    Có rất nhiều người cho rằng những bài viết của tôi đơn thuần là bảo vệ môi trường là chính, mà viết về bảo vệ môi trường thì dễ dàng thôi, cái gì cũng có thể đả kích được. Tuy nhiên, tôi đã từng là một doanh nhân, lại chuyên về ngành xã hội – tâm lý học, và tôi thấy rằng những vấn đề về môi trường cần phải được nhìn nhận từ một hệ thống, trong đó mang đầy đủ các khía cạnh của kinh tế, xã hội, chính trị, nhân chủng học, lịch sử và tài nguyên tự nhiên. Tôi thấy khó khăn khi khẳng định một vấn đề này, nhưng vẫn phải nói rằng: Chúng ta mất hy vọng rồi ! Vì tôi biết rằng với một tình hình như hiện nay, chỉ có việc ý thức được tình trạng vô vọng mới có thể cứu vãn được tình hình. Tôi không hy vọng gì với những khẩu hiệu xanh, những phong trào truyền thông bảo vệ môi trường vui nhộn, những biện pháp như Giờ Trái Đất, đánh thuế khí thải carbon (lại là một hình thức kinh doanh khác !) … Tôi chỉ mong xã hội có được một sự thay đổi từ bên trong, từ chính căn nguyên của vấn đề, những thay đổi không cần khua chiêng đánh trống, nhưng rất dễ dàng và đơn giản để thực hiện.

    Để kết thúc những dòng chia sẻ trên, tôi xin gửi tặng anh một câu nói thời danh của Johann Wolfgang von Goethe: “Không ai ở trong tình trạng nô lệ tồi tệ hơn những kẻ cứ tưởng rằng mình đang được tự do”. Ngày nay, chúng ta cứ tưởng rằng mình tự do vì những thứ vật chất, thói quen tiêu dùng, những tiện nghị xa xỉ … Hãy coi chừng, vì đó là sự phụ thuộc tệ hại nhất mà chúng ta phải trả giá đắt.

    Chúc anh luôn vui khỏe.

    Dat An

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: